Sao Thái Âm - Ý Nghĩa Tại Mệnh Và Cung Khác Trong Tử Vi

0

Nội dung chính [Hiện]

Sao Thái Âm là một trong những bộ sao cực kỳ quan trọng trong khoa tử vi, nó mang nhiều ý nghĩa về sự thành bại của đương số. Cho dù Sao Thái Âm nằm ở bất kỳ cung nào thì chúng ta cũng cần phải xem xét đến nó. Sao Thái Âm tương trưng là Mặt Trăng, soi sáng tỏ tường. Sao Thái Âm cũng tương trưng cho Mắt (bên phải), tương cho người mẹ hiền, tượng cho thời thế. Chính vì thế một khi Thái Âm ở trạng thái Miếu Vượng con người ta sớm thành công, thông minh, mẹ sống thọ…. Trừ khi gặp ám tinh như Riêu, Đà, Kỳ, Thiên Hình thì sẽ rất ảnh hưởng đến bộ sao này.

  • Phương Vị: Bắc Đẩu Tinh
  • Tính: Âm
  • Ngũ Hành: Thủy
  • Loại: Phú Tinh, Tài Tinh
  • Đặc tính: Điền trạch, tiền bạc, đôi mắt, mẹ, vợ (nếu là đàn ông)
  • Cai Quản: Cung Điền, Cung Tài
  • Tên gọi tắt thường gặp: Nguyệt

Luận Giải Chung về Sao Thái Âm

Nếu như Sao Thái Dương tương trưng cho mặt trời thì Sao Thái Âm tương trưng cho mặt trăng, Âm Dương là hai mặt đối lập, Thái Âm tương cho người mẹ, tượng cho người đàn bà, tượng cho người vợ, tượng trưng cho thời thế…. Âm và Dương luôn tồn tại song song với nhau. Khi luận giải một lá số bất kỳ thì bắt buộc phải luận giải thế đứng của bộ Sao Nhật Nguyệt này.

Thái Âm thuộc Thủy thực là

Văn Chương cũng có nguyệt hoa phong tình

Yêu người dạ tia phân minh

Từ Dần đến Ngọ dạ sinh mấy kỳ

Dù là đàn ông hay Phụ nữ nếu có Thái Âm đóng ở cung mệnh là người mềm dẻo, khôn khéo, văn chương nghệ thuật, tháo vát, ngay thẳng, chính trực. Thái Âm hợp nhất với Tuổi Âm Nam và Ở Mệnh Phụ nữ, ở trạng thái Miếu Vượng Thái Âm khóa khí ra cả Tứ Hóa (Lộc – Quyền – Khoa - Kỵ), Vì thế Thái Âm cũng nói lên một vấn đề khó mà lường trước được. Đôi khi Thái Âm nhẹ nhàng và uyển chuyển như dòng nước mát, nhưng cũng có lúc lại mạnh mẽ như là nước lũ cuốn trôi. Vận hội đến Thái Âm con người ta thành công như vũ bão. Ở trạng thái hãm địa thì Thái Âm có phần kém hơn, ăn chơi hơn, và sự thành công cũng kém hơn.

Âm dương dù đóng bất kỳ cung nào nếu như Hãm địa thì tuổi nhỏ gặp nhiều khó khăn, bố mẹ không chiều chuộng, kinh tế của bố mẹ cũng chưa hẳn đã tốt, Âm dương lạc hãm thì sinh lý kém, mắt kém tươi và kém tinh.

Thái Âm có tính âm, vì thế hợp dù đắc hay hãm thì hợp hơn khi đóng ở cung Âm và với người tuổi Âm. Thái Âm tương trưng là mặt trăng, vì thế cũng hợp với người sinh vào ban đêm, đặc biệt hợp cách nhất dành cho những người vào ban đêm, từ ngày 10 đến ngày 20 hàng tháng.

Trong khi Thái Dương là ánh sáng của lý trí, là biểu tượng của sức mạnh, không ngại đương đầu với khó khăn, cản trở, còn Thái Âm thì nhu hòa uyển chuyển, dễ dàng lùi bước để tiến lên về sau, vì thế mà Thái Âm sợ gặp Tuần - Triệt hơn là Thái Dương. 

Ngay cả khi miếu, vượng nếu không có Xương, Khúc, Quang, Quý, Tả, Hữu đi cùng mà gặp Tuần, Triệt thì Thái Âm sẽ trở thành tối hãm, phá cách, cuộc đời bế tắc, còn khi Nguyệt hãm, gặp Tuần, Triệt thì sẽ giảm cái xấu của Thái Âm lạc hãm chứ không làm cho Thái Âm đẹp lên như đắc địa.

Sao Thái Âm hợp với những người Mệnh Kim, Thủy, và Mệnh Mộc, Không tốt với những người mệnh Thổ hoặc Mệnh Hỏa. Thái Âm cũng không hợp với những người sinh vào ban ngày, đặc biệt là Từ giờ Dần đến giờ Ngọ.

Thái Âm gặp Không Kiếp, Kình Đà, Riêu, Hình, Đà Kỵ, Linh, Hỏa sẽ trở nên phá cách và làm mất đi ánh sáng, cho Dù Miếu Địa khi gặp Linh Hỏa, Không Kiếp, Hình, Riêu, Đà la đều kém, làm mất đi ánh sáng.

Âm Dương rất đẹp nhất khi gặp Xương Khúc, Quang Quý, Khôi Việt, Tả Hữu và Khoa Quyền Lộc, chủ về giàu có, khoa bảng, thông minh, công thành danh toại. Đặc biệt khi Thái Âm miếu địa cũng không sợ hóa kỵ đơn thủ, trừ khi gặp thêm Linh Hỏa, Đà La, Không Kiếp mới ảnh hưởng nhiều.

Thái Âm khi gặp Riêu, Đà, Kỵ, Đào Hồng là người rất lãng mạn, cuộc đời lãng lý hành thuyền, yêu đương, thích được nhẹ nhàng, cưng chiều, là người đa tài nhưng lắm tật. Rất đào hoa và phong tình phong lưu. Thái Âm miếu đia là người chính trực, thủy trung, đúng sai rõ dàng.
Thái Âm thì chi tiêu phóng khoáng, trong khi Thái Dương thì chi tiêu có phần chặt chẽ hơn.

Thái Âm dù đóng ở bất cứ vị trí nào cũng không nên có thêm Lục Sát Tinh tụ hội (nhất là Đà La). Trường hợp gặp Kình Dương cần có thêm Phượng, Giải, gặp Không, Kiếp cần có Quang, Quý để hóa giải phần nào...

Âm Dương tương trưng cho Đôi Mắt, vì thế khi hãm địa, gặp tuần triệt, hoặc riêu, Đà, Kỵ thì rất dễ bị cận, hoặc bị mù lòa.

Thái Âm đóng ở cung Từ Dần đến Ngọ ở trạng thái hãm địa, tuổi trẻ thường phải ăn đậu ở nhờ nhà cô dì chú bác một thời gian, sau đó mới ra ngoài làm ăn, lập nghiệp, kinh tế có phần phát triển khi ở tuổi trung niên.

  • Miếu địa: Cung Dậu, Tuất, Hợi.
  • Vượng địa: Cung Thân, Tý.
  • Đắc địa: Cung Sửu, Mùi.
  • Hãm địa: Cung Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ.

Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Mệnh

Ý nghĩa Tướng hình: Thái Âm khi đóng cung mệnh thì thân hình cao lớn, mặt tròn da trắng, mắt sáng, là người béo tốt, đẫy đà. Khi Hãm Địa thì mắt kém, người có thân hình nhỏ hơn,  mặt có thể hơi dài.

Ý nghĩa Tính Tình: Dù là Nam hay Nữ thì mệnh thủ Sao Thái Âm là người nhẹ nhàng, mềm mại, thông minh, là người hòa nhã, thích văn chương nghệ thuật, khéo léo, ôn hòa, tỷ mỷ, chu đáo. Thái Âm khi hãm địa thì tính tình có phần ngang bướng hơn, tuy nhiên vẫn là người mềm mại, và thương người.

Mệnh có Thái Âm luôn quan tâm đến người khác, rất tâm lý, thích được yêu, thích được chiều và rất đào hoa.

Công Danh Tài Lộc: Thái Âm chủ về thời thế, hóa khí là Phú, vì thế Thái Âm chủ về buôn bán kinh doanh rất nhiều tiền, tích tụ được điền sản, Đặc Biệt khi Miếu Địa, Thái Âm ở Mệnh người phụ nữ thì là người kinh doanh đại tài, có khối tài sản lớn, giàu có vô cùng. Thái Âm khi Miếu Địa là người có trí tuệ, thông minh, học giỏi, lịch lãm, có tài ngoại ngữ và ngoại giao.

Thái Âm tượng trưng là Biển Cả, khi ở Miếu Địa thể hiện sự thành công như Vũ Bão, công danh tiền bạc, địa vị chả thiếu gì.

Ở trạng thái Hãm địa thì làm ô sin tôi tớ giúp việc cho người khác một thời gian, kinh tế về sau vẫn ổn định và khá giả.

Âm Dương Miếu Địa thì rễ xuất ngoại, ra ngoài làm ăn kinh doanh, kinh tế rất thành công, làm lãnh đạo được.

Âm Dương ở Sửu Mùi rất cần Tuần, Triệt, Hóa Kỵ án ngữ để trở thành phản vi kỳ cách, tuy nhiên khi Âm Dương đồng cung thì công danh khó mà lớn được.

Phúc Thọ Tai Họa

Về Phúc thọ tai họa đối với Sao Thái Âm thường gặp là bệnh về mắt, Bệnh về hệ thống thần kinh, về gia đạo và  người mẹ nếu như Thái Âm hãm địa hoặc gặp Lục Sát Tinh (kình, Đà, không, Kiếp, Linh, Hỏa, Kỵ, Hình). Thái Âm hãm địa gặp sát tinh thì mẹ mất trước cha, bà mất trước ông. 

Những Bộ Sao Tốt

Thái Âm sáng sủa, rất ưa gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc chủ về giàu có, nhiều điền sản, tiền bạc nhiều, số là triệu phú.

Thái Âm Miếu Địa gặp Hóa Kỵ vẫn tốt như thường.

Thái Âm gặp Tam Hóa (Hóa Khoa, Hóa Lộc, Hóa Quyền) thì vừa giàu vừa sang lại có trình độ, có công danh, khoa bảng văn chương.

Thái Âm gặp Xương Khúc: Rất thông minh, thanh lịch, nhẹ nhàng, tài hoa, phong tình, học cực giỏi, tuy nhiên lãng mạn và phong lưu.

Âm Dương Miếu Địa gặp tứ Linh (cái Long, Hổ, Phương): Uy quyền, hiển hách.

Thái Âm gặp Thiên Đồng: ở cung Tý thì rất đẹp, có quyền quý, giàu có.

Âm Dương gặp Đào, Hồng, Hỷ: Rất đẹp, lắm tài, nổi tiếng, được nhiều người biết đến.

Thái Âm, Thiên Đồng, Kình Dương, Long Phương: Làm Thầy nổi tiếng, Anh hùng một phương.

Ý nghĩa Sao Thái Âm ở 12 cung trên Lá số Tử Vi 

Thái Âm ở Tý

Tại Tý là nơi vượng địa, rất đẹp cho Thái Âm, lại đi cùng sao Thiên Đồng cũng vượng địa, nên Mệnh an tại đây là người nhân hậu từ thiện. Con trai là bậc quân sư tài giỏi, ăn nói nhẹ nhàng nhưng đanh thép. Còn con gái nếu hội thêm Tang, Hổ, Khốc, Hư, Riêu thì là người rất đẹp về nhan sắc nhưng là người bạc mệnh, chuyện tình duyên đầy trắc trở.

Nếu cung Phu Thê ở Tý có Thái Âm ngộ Văn Khúc chắc chắn cung Mệnh ở Dần có Cự - Nhật ngộ Văn Xương, nên con trai có cách này cũng có thể gọi là “Thiềm cung triết quế” lấy vợ là người tài năng xinh đẹp, thật là một đôi trai tài gái sắc. Nhưng nếu là nữ số có cách này sẽ không được gọi là “Thiềm cung triết quế”, tuy không được đẹp như trên nhưng cũng lấy được chồng giàu có, tình nghĩa. Nếu có thêm Kình Dương, rất cần thêm Phượng Các, Giải Thần để làm cho Kình Dương trở nên bớt hung hiểm. Vợ chồng tuy khắc khẩu nhưng vẫn sống với nhau tới đầu bạc răng long.

Nếu gặp thêm Đà La thì dẫu có Phượng Giải cũng không giải cứu được. Lúc này rất cần Quang Quý chiếu về hoặc Hóa Khoa đồng cung để giải bớt hung họa của Đà La. Dù có được thêm sự hội họp cứu giải của Quang Quý, Hóa Khoa thì tác hại của Đà La vẫn không mất hẳn.

Thái Âm ở Tý cùng với Thiên Đồng nếu ngộ thêm Tuần Triệt rất cần Văn Khúc, Tả Phù Quang Quý hội hợp chiếu về, thì sẽ chỉ trắc trở ban đầu, về sau vẫn tốt như thường. Đặc biệt sao Tuần, Triệt trong trường hợp này nếu có đủ Quang Quý Khúc Tả hội hợp về sẽ như cái phanh làm cho sao Thiên Đồng trở nên vững chãi hơn, không hay thay đổi.

Thái Âm ở Sửu Mùi

Nhật Nguyệt đồng cung tại Sửu Mùi kém hay, lúc này rất cần  Tuần, Triệt, Hóa Kỵ để phản vi kỳ cách. Công Danh kém, thông thường khi Âm Dương đồng cung con người ta không thích học hành, chỉ thích kinh doanh, đam mê kinh doanh kiếm tiền.

Mấy người bất hiển công danh

Là vì Nhật Nguyệt đồng lâm Sửu Mùi

(Xem thêm bài về sao Thái Dương.) 

Thái Âm ở Dần

Khi cư tại Dần, Thái Âm tối hãm, rất nguy hại cho nữ Mệnh. Trường hợp này rất cần được Tam Minh, Long Phượng và Tam Hóa hội họp để phù trì, nếu không đời sẽ nhiều gian truân, hung họa.

Khi đồng cung với Thiên Cơ tại Dần, cả hai chính tinh đều hãm địa, nếu không được sự cứu giải của các trung tinh thì chắc chắn đương số là người bôn ba, lận đận, gặp nhiều tai nạn và đương nhiên tuổi thọ không cao. Nếu gặp thêm lũ sát tinh, Thiên Hình, Hóa Kỵ thì đương số là người cô độc, tật nguyền, tai họa và bệnh tật rất nặng, chắc chắn là người đoản mệnh.

Vốn dĩ là sao cơ mưu và nhân nghĩa nên khi Thiên Cơ hãm địa tại Dần, nếu hội họp thêm vài sao xấu như Thiên Hình, Hóa Kỵ thì cơ mưu và nhân nghĩa của Thiên Cơ dễ trở thành lưu manh, thủ đoạn, khiến mọi người khinh ghét.

Nếu gặp Xương, Riêu thì chắc chắn là người sa đọa, đĩ điếm, làm văn thơ dâm tình.

Dù trong bất kỳ trường hợp nào khi Cơ - Nguyệt đồng cung tại Dần rất cần có Tam Minh, Tam Hóa hội họp cùng các trung tinh khác để cứu giúp đương số giảm bớt cô đơn, nghèo nàn và tai họa.

Riêng phụ nữ, nếu gặp cách này còn thêm nghịch cảnh về chồng con, đau đớn vì tình, cuộc đời đong đầy nước mắt.

Thái Âm ở Mão

Khi Thái Âm đơn thủ ở Mão tuy là hãm địa nhưng vì đóng tại cung Âm nên sự hung họa có phần được giảm bớt, vì thế mà đương số không phải chịu cảnh đói nghèo, khổ sở, hung họa như khi Thái Âm hãm địa tại các cung Dương. Dầu sao thì sự hiển đạt cũng chỉ ở mức trung bình, tuổi thọ cũng bị chiết giảm. Rất cần sự hội họp của các sao tốt đẹp như Tam Minh, Tam Hóa để được phù trì … và tránh xa lũ Sát tinh, Tam Ám để sự may mắn được tăng thêm, giảm thiểu bất hạnh về gia đạo, tuổi thọ.

Theo thiển ý của người viết, trong trường hợp này, dù Thái Âm cư Mão (hay Tỵ) là cung an Mệnh, Thân hay Quan, Phúc... thì đương số cũng là người phúc mỏng, lận đận về đường công danh, gia đình không được hòa thuận, bản thân cũng không được khỏe mạnh. Nếu có điều kiện nên sớm ly hương, tạo nhiều nghiệp thiện để giảm thiểu tai kiếp và được sống lâu hơn.

Thái Âm ở Thìn

Khi Thái Âm đóng tại Thìn là vị trí lạc hãm, lại gặp Thái Dương cũng lạc hãm tại Tuất trực chiếu, cả hai nguồn ánh sáng này đều rất mờ nhạt, yếu ớt, trong khi Thìn lại là cung Dương nên Thái Âm ở đây càng xấu hơn, chỉ mang lại sự nghèo khổ, thất bại trên nhiều bình diện cho đương số.

Theo quan điểm của tác giả Hoàng Thương và Hàm Chương (Tử vi khảo luận) thì người có Thái Âm đơn thủ tại Thìn sẽ hưởng “phong lưu qua thăng trầm” và “mất mát nhà cửa” (trang 194, sách đã dẫn). Quan điểm này chưa thấy sánh nào đề cập tới nhưng vì mới, lạ nên người viết lưu ý để đọc giả cân nhắc khi tham khảo.

Dù sao thì khi Thái Âm đơn thủ tại Thìn, ở vị trí lạc hãm như thế chắc chắn sẽ là người bạc phúc, nghèo khổ, phải ly tổ mới mong tạo dựng được cơ nghiệp và đỡ phải lao tâm khổ xác.

Cũng như các trường hợp Thái Âm tối hãm khác, trường hợp này cũng rất cần xa lánh các Sát tinh, Tam Ám để cuộc đời giảm bớt đắng cay, khổ cực. Nếu được Tam Minh, Tam Hóa và các sao tốt đẹp khác hội họp cứu giải thì thật không gì bằng cho đương số.

Thái Âm ở Tỵ

Mặc dù Thái Âm ở Tỵ là chính vị (sao Âm cư cung Âm) nhưng Ngũ hành của Thái Âm và cung Tỵ là nước với lửa nên khi Thái Âm đơn thủ tại đây là rất xấu. Người có Thái Âm đơn thủ tại cung Tỵ thường là người nhu nhược, bạc phúc, chịu nhiều cay đắng, dù là đàn ông hay đàn bà thì chất nữ tính cũng rất nhiều.

Khi Thái Âm cư Tỵ sẽ gặp Cự - Nhật đều hãm địa ở Thân hợp chiếu (thế nhị hợp). Đây là cách rất xấu của Nhật - Nguyệt, rất cần gặp Tuần, Triệt án ngữ hoặc Thiên Không, Thiên Tài đồng cung để cứu giải. Tuy nhiên, người Âm nam, Âm nữ so với người Dương nam, Dương nữ sẽ được chiết giảm về tai ương, họa hại.

Thái Âm ở Ngọ

Ngọ đã là nơi tối hãm nhất của Thái Âm, lại đồng cung với Thiên Đồng cũng hãm địa nên Đồng - Nguyệt tại đây chính là ở vị trí “Cùng tắc biến”. Đồng - Nguyệt trong trường hợp này phải HÓA được (thành Quyền, Lộc, Khoa, Kỵ) mới thành “Phản vi kỳ cách”. Nếu không, cuộc đời của đương số sẽ không còn gì phải bàn cãi: thất bại, họa hại triền miên và bế tắc.

Trường hợp này, nếu có thêm Kình Dương (Kình Dương thuộc Kim, cư nơi Dương Hỏa cực vượng, cho nên Kình bị hãm rất xấu, mới gọi là cách "Mã đầu đới kiếm") mà Thái Âm hóa ra được cả Khoa, Quyền, Lộc, Kỵ thì Thiên Đồng sẽ là hình ảnh tướng có thực tài, thực quyền cưỡi ngựa đi ra biên cương mà làm nên công trạng. Ngay trong trường hợp này vẫn rất cần có thêm Phượng Các, Giải Thần hóa giải để kìm hãm nguy hại còn rất lớn của Kình Dương hãm tại Ngọ. Tuy nhiên bắt buộc vẫn phải có Tam Hóa mới thành được “Phản vi kỳ cách”, nếu không có Tam Hóa thì dù Thái Âm có Hóa ra được cả bốn khí vẫn là tối hãm và nguy hại như thường.

Cũng nên lưu ý rằng: Đà La là khắc tinh của Nhật - Nguyệt nên khi Đồng - Nguyệt ở Ngọ gặp Đà La thì dù có được Tam Hóa và Phượng, Giải tụ hợp cũng là phá cách, cuộc đời vẫn vui nhiều buồn ít. Ngay cả khi gặp Hỏa, Linh, Không, Kiếp dù không xấu như gặp thêm Đà La nhưng cũng không thể gọi là “Phản vi kỳ cách” được.

Thái Âm ở Thân 

Khi Thái Âm ở Thân sẽ đồng cung với sao Thiên Cơ, ở vị trí này cả hai sao Thiên Cơ, Thái Âm đều được vượng địa nên con người có môi trường sống tốt, hay gặp may mắn, bản chất nhân từ, lương thiện, giàu có và hạnh phúc gia đình được xuôi chèo mát mái. Tuy nhiên, Cơ - Nguyệt ở Thân dù tốt đẹp đến đâu cũng là người cả nghĩ, hay ghen, vì thế rất cần có Ân Quang, Thiên Quý chiếu về mới có thể gọi là hoàn toàn tốt đẹp.

Nếu là nữ số, khi Thái Âm ở Thân ngộ Văn Khúc là người thông minh, xinh đẹp. Nếu Mệnh cư tại Thân thì cung Phu - Thê sẽ an tại Ngọ, có Thái Dương (miếu địa) ngộ Văn Xương sẽ lấy người chồng tài giỏi, bao bọc. Nếu cung Phu - Thê có nhiều cát tinh khác hội họp như Tam Hóa, Tam Minh, Long, Phượng … thì người chồng có thể làm đến bậc nguyên thủ Quốc gia. Nhưng trong trường hợp này nếu có thêm Linh, Hỏa hay Kình thì cái đẹp của Phu - Thê bị chiết giảm, vợ chồng hay khắc khẩu, nếu gặp Kiếp, Không càng xấu, gặp Đà La thì sẽ là phá cách.

Thái Âm ở Dậu

Tại Dậu là vị trí miếu địa của Thái Âm, được Thái Dương miếu địa ở Tỵ, Thiên Lương đắc địa ở Sửu chiếu về tạo thành cách “Nhật Nguyệt tịnh minh” nên người có Thái Âm cư Dậu sống hiền lương, đức độ, giàu sang vinh hiển. Nếu được nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội họp như Xương, Khúc, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc, Đào, Hồng, Hỷ tất sẽ phú quý tột bực và nổi tiếng.

Trường hợp này, nếu cung Phu - Thê an tại Dậu thì cung Mệnh an tại Hợi có Cự Môn vượng địa độc thủ, được Thái Dương miếu địa tại Tỵ chính chiếu, tuy không còn là cách “Nhật Nguyệt tịnh minh” nhưng vẫn  được hưởng giàu sang, phú quý, vợ chồng sống hạnh phúc với nhau đến lúc mãn chiều.

Thái Âm ở Tuất

Khi Thái Âm đóng tại Tuất sẽ được Thái Dương ở Thìn trực chiếu ánh sáng đẹp đẽ, tạo thành cách Nhật Nguyệt tranh huy. Mệnh cư Thìn nếu cung Tuất không nằm trong tam hợp Thái Tuế thì cũng được hưởng cả Âm Dương. Mệnh cư Tuất muốn hưởng được cả Thái Dương phải đứng trong tam hợp Thái Tuế. Trường hợp được hưởng cả cặp Âm Dương ở Thìn Tuất gặp Xương Khúc Tả Hữu Quang Quý là thượng cách, tối quý.

Thái Âm ở Hợi

Thái Âm ở Hợi là Thái Âm miếu địa, được NHẬT - LƯƠNG ở Mão hợp chiếu, tạo thành cách “Nguyệt lãng Thiên Môn” rất đẹp, nếu cung Mệnh đóng ở đây thì thật đẹp. Càng đẹp hơn nếu có Hóa Kỵ đồng cung (chỉ có người tuổi Ất mới được hưởng cách này) sẽ là kỳ cách, cuộc đời sẽ giàu sang, phú quý, sự nghiệp rạng rỡ. Cung Mệnh cư ở đây dù là trai hay gái đều tối quý, miễn là mệnh Thủy, mệnh Kim.

Khi Thái Âm ở Hợi mà Mệnh cư Mùi sẽ là cách “Nhật Nguyệt tịnh minh”, người có cách này rất thông minh, phò tá cho bậc nguyên thủ quốc gia. Mệnh cư Mão thì cung Quan Lộc sẽ được Nhật Nguyệt Tịnh minh chiếu cũng rất đẹp.

Ý nghĩa Sao Thái Âm ở các cung khác

Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Phụ Mẫu

Thái Dương, Thái Âm đều sáng sủa: Cha mẹ sống thọ.

Thái Âm gặp Tuần Triệt: Cha mẹ mất sớm, có sự chắp nối, hoặc mình không ở gần.

Thái Âm, Thiên Đồng đồng cung: Cha mẹ khá giả, nhưng hay bất hòa, khắc khẩu, không được ở gần một trong hai người.

Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Phúc Đức

Sao Thái Âm tượng cho người phụ nữ nên khi đóng ở cung phúc đức thì nhà có bà cô tổ rất linh thiêng, Phần Mộ xung quanh nhiều nước, có sống ngòi đi qua. Họ hàng nhiều người thịnh vượng, tích phúc, làm nhiều việc thiện. Thái Âm cũng tượng là Cụ Bà, là mẹ vì thế khi ở Phúc tượng cho Mộ Cụ Bà phát hoặc Mộ Mẹ Phát (nếu như mẹ đã mất).

Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Điền Trạch

Thái Âm cai quản cung Điền, khi đóng ở điền trạch thì đương số lắm đất nhiều nhà, nhà cửa xung quanh có nước, nhà đất vuông vắn, kinh doanh bất động sản cũng được. Ở trạng thái Miếu Vượng thì rất nhiều điền sản.

Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Quan Lộc

Thái Âm đơn thủ tại Dậu, Hợi: Công danh danh hiển đạt.

Thái Âm đơn thủ tại Tuất: Có tài, công danh hiển đạt nhưng thường bị nhiều người ghen ghét hay bị bó buộc vào nhưng công việc không hợp với chí hướng.

Thái Âm tại Mão: Công danh muộn màng, có tài ăn nói, văn chương lỗi lạc.

Thái Âm đơn thủ tại Thìn, Tỵ: Gặp nhiều trở ngại trên đường công danh, có tài nhưng không gặp thời, công danh lận đận. Lúc thiếu thời vất vả, đến khi nhiều tuổi thì mới xứng ý toại lòng. tuy vậy, vẫn được nhiều người kính trọng có đức độ và có tài văn chương.

Thái Âm, Thiên Đồng đồng cung tại Tý: Công danh hiển hách, có nhiều tài năng khéo léo, nghề tinh xảo, đặc biệt, thông minh, mưu trí. Là số tay trắng làm giàu, càng lớn tuổi thì càng khá giả.

Thái Âm đồng cung với Thiên Đồng tại Ngọ: Chuyên về kỹ nghệ hay doanh thương.

Thái Âm, Thái Dương đồng cung tại Sửu, Mùi: Công danh bất hiển vì Âm Dương hổn hợp. Nhưng nếu có Tuần, Triệt thì lại tốt.

Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Nô Bộc

Nhật Nguyệt đắc địa: Tôi tớ lạm quyền, có học trò giỏi, người phò tá đắc lực.

Nguyệt hãm địa: Tôi tớ ra vào luôn, không ở lâu bền.

Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Thiên Di

Nhật, Nguyệt sáng gặp Tam Hóa: Được nhiều người quý trọng tôn phục, giúp đỡ, hậu thuẫn.

Thái Âm ở Di thì đương số dễ dàng xuất ngoại, nếu như cung An Thân ở Di thì có thể định cư ở nước ngoài, làm ăn giao dịch với người nước ngoài, nếu như Miếu Địa thì tiền bạc kinh tế rất giàu có, cuộc đời rất nhiều tài sản. Ra ngoài được nhiều người giúp đỡ, gặp may mắn, được nhiều người mời ăn uống.

Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Tật Ách

Nguyệt hãm gặp sát tinh: Gặp nhiều bệnh hoạn triền miên ở mắt, thần kinh, khí huyết, kinh nguyệt.

Nguyệt, Trì, Sát: Hay đau bụng.

Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Tài Bạch

Nguyệt sáng gặp Sinh, Vượng: Rất giàu có, kiếm tiền rất dễ dàng và phong phú.

Nguyệt sáng gặp Vũ chiếu: Giàu có lớn.

Nguyệt Tuất, Nhật Thìn: Đại phú.

Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Tử Tức

Nguyệt Thai Hỏa: Có con cầu tự mới nuôi được.

Nhật Nguyệt Thai: Có con sinh đôi.

Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Phu Thê

Nguyệt, Nhật miếu, vượng địa: Sớm có gia đình.

Nguyệt Xương Khúc: Vợ đẹp, có học (giai nhân).

Nguyệt, Quyền ở Thân: Sợ vợ.

Ý Nghĩa Thái Âm Ở Cung Huynh Đệ

Nhật Nguyệt giáp Thai: Có anh chị em song sinh.

Thái Âm Khi Vào Các Hạn

Hạn Đến Thái Âm thì kinh doanh thuận lợi, sinh con đẻ cái, nếu như Miếu Địa thì xuất ngoại làm ăn, kinh doanh với người nước ngoài, đi đây đi đó, sự nghiệp phát triển rực rỡ. 

Vận đến Thái Âm thì mua nhà, mua xe vì Thái Âm tượng trưng cho khối tài sản lớn.

Nguyệt sáng: Tài lộc dồi dào, có mua nhà, đất, ruộng vườn, gặp việc hên, sanh con.

Nguyệt mờ: Hao tài, đau yếu (mắt, bụng, thần kinh) bị kiện vì tài sản, bị lương tâm cắn rứt, sức khỏe của mẹ, vợ bị kém.

Nếu thêm Đà Tuế, Hổ: Nhất định mất mẹ.

Nguyệt Đà Kỵ: Đau mắt nặng, mất của.

Nguyệt Hỏa Linh: Đau yếu, kiện cáo.

Nguyệt Hình: Mắt bị thương tích, phải mổ.

Nguyệt Cự: Đàn bà sinh đẻ khó, đau đẻ lâu.