Xem tướng 12 cung trên khuôn mặt

0 89

Luận về 12 cung tướng trên khuôn mặt cũng giống như tử vi gồm 12 cung. 12 cung này ảnh hưởng đến cung mệnh, cung huynh đệ, cung tài, cung điền trạch, cung tử tức, cung phu thê, cung phụ mẫu, cung thiên di, cung tật ách, cung quan lộc, cung phúc đức. Mỗi cung đều có biểu hiện và hình thể biểu lộ rõ dàng trên khuôn mặt.

Luận 12 cung tướng trên khuôn mặt

xem tướng 12 cung trên khuôn mặt
xem tướng 12 cung trên khuôn mặt

Cung mệnh viên

Cung mệnh nằm ở giữa hai mi giáp nhau, bên trên sống mũi. Mệnh cung sáng bóng như gương là người có học vấn tinh thông. Sơn Căn (sống mũi, nơi giáo với mệnh cung) đầy và phẳng chủ về phúc thọ. Sống mũi thuộc Thổ tinh, thẳng và cao, hai mắt lại sáng quắc là của tiền nhiều. Mệnh cung lõm và thấp chủ bần tiện. Có gân vết rối loạn là người ly  hương và khắc vợ. Trán hẹp, mi khô thì tán tài, vất vả.

Cung tài bạch

Mũi chủ cung Tài Bạch, tức là tài tinh thuộc hành Thổ, Sống mũi ống tre chẻ đôi, đầu mũi hình như cái mật treo rủ xuống thì đụn bạc hang tiền.

Mũi thẳng mà cao: Một đời vượng tài, phú quý.

Mũi ngay không lệch: Của cải vững bền.

Đầu mũi quắp như mỏ diều hâu hoặc nhọn hoắt: Tán tài, nghèo khổ.

Lỗ mũi ngửa và hếch: Được bữa sớm mất bữa sau.

Lỗ mũi rỗng tuêch: Một đời nghèo kiết.

Cung Huynh Đệ

Cung huynh đệ ở hai bên lông mi, bên phải thuộc về la hầu, bên trái thuộc về Kế Đô.

Mi dài hơn mắt: Đông anh em.

Mi tốt mà thưa: Anh em hòa thuận

Mi như vành trăng đầu tháng: anh em hòa thuận và danh giá.

Mi ngắn mà nhỏ: Anh em ly biệt.

Mi mọc chờm lên mắt: Ít anh em

Lông mi mỗi bên một kiểu: Cùng cha khác mẹ.

Hai mi giao nhau, thưa và vàng ệch là tướng chết đường

Lông mi xoắn chôn ốc: Anh em ít mà bất hòa.

Cung Điền trạch

Cung điên trạch là 2 bên mắt. Trong mắt có tia máu đỏ chạy vào con ngươi thì tiền vận phá tán gia sản, đến già cũng vẫn nghèo kiết.

Lòng – đen đen kịt: Suốt đời sung sướng.

Mắt Phượng mi cao: Ruộng nương ngàn mẫu.

Mắt đỏ như lửa, vành mắt thâm sì: Khuynh gia bại sản.

Hai bên âm dương, dương khô đét đến xương: Ruộng vườn khó giữ.

Cung Tử tức

Cung tử tức chủ về con cái, vị trí ở hai bên dưới mắt, gọi là lệ đường hay Ngọa –tàm hay Long Cung. Chỗ ấy đầy đặn, bằng phẳng: con cháu vinh xương, nếu thấp hãm: Sinh dục gian nan. Có nốt ruồi hay có vân phá thì hiếm hoi, khắc con cái. Những người tay bồng tay mang, phần nhiều Ngọa Tàm nổi lên như tựa con tằm vắt ngang dưới mắt mà sắc thì nhuận tươi.

Cung Nô Bộc (tôi tớ)

Cung nô bộc ở Địa Các (cằm). Cằm tròn và đầy là nhiều tôi tớ. Hai bên quai hàm nở nang, triều lại thì nhất hô bách nặc. Miệng vuông như hình chữ Tứ thì có oai quyên.  Địa các nhọn hoặc lệch thì làm ơn mắc oán. Có vân vết hoặc thấp hãm, khó nuôi đầy tớ.

Cung Thê thiếp

Cung thê thiếp ở ngang đôi mắt, tức là ngư vị, gọi là Gia Môn. Quang nhuận, không có vết thì vợ đủ tứ đức. Đầy đặn, bằng phẳng lấy được vợ giàu. Lương quyền cao nang Thiên Sương( chỗ giáp mái tóc) nhờ vợ mà có lộc. Gia Môn thấp hãm, làm rể nhiều lần. Ngũ vị có nhiều vết, vợ bị ác tử. Gia môn sâm sạm, vợ hay bỏ chồng. Có vết đen hoặc vết ngang, vợ hay ngoại tình và dâm dục.

Cung tật ách (bệnh tật)

Cung tật ách ở dưới ấn dường (tức mệnh cung) và trên sơn căn, cao và đầy đặn: Có nhiều phúc lộc. Sống mũi cao liền ấn đường là người văn học. Sáng sủa bóng bẩy, phúc lộc đầy đủ. Sống mũi có vết hoặc thấp hãm: Suốt đời bệnh tật. Nhọn, lệch và hô sậm như sương khô hoặc như ám khói, không nhuận sắc: suốt đời tật khổ.

Cung Thiên Di (xuất ngoại)

Cung thiên di ở cuối hai bên lông mi, gọi là Thiên Sương (từ chân mi đến chân tóc) sáng sủa, đầy đặn: đi xa có lợi. Đen tối, khuyết hãm: không lợi xuất hành. Nếu Trán lép thì suốt đời lận đận, giang hồ. Hai mi giao nhau, cung này lại đen tôi, khuyết hãm thì phá sản, ly hương.

Cung Quan Lộc

Cung Quan Lộc ở trên ấn đường, giữa trán, gọi là Trung Chính. Có Xương chạy thẳng tư sống mũi lên đến Trán, giáo chân tóc, gọi là Phục tê quán đỉnh thì công danh hiển đạt sớm.

Đầy đặn sáng sủa: Hiển đạt hơn người. Có vân, có vết xung phá thì thường gặp tai nạn.

Lõm thấp, vặn vẹo, thế nào cũng bị tù, khốn bức.

Hai bên dịch má (hai bên giáp mái tóc) triều lại thì nhân làm quan mà giàu có. Nếu ấn đường nổi cao, triều lại thì phú quý nổi danh.

Cung Phúc Đức.

Cung Phúc Đức ở hai bên Thiên Sương tức là chỗ bên trên cuối lông mi. Đầy đặn, ngũ tinh triều củng, phúc lộc vinh  hoa. Thiên Sương, đại các triều cùng nhau là được đức hạnh và được hoàn toàn ngũ phúc. Quai hàm rộng tròn và Trán Hẹp, tiền vận vất vả. Quai hàm rộng mà Trán nhọn, hậu vận gian nan. Mi cao mắt lộ còn được bình thường. Mi thấp, tai bạt là kẻ hèn hạ.

Cung Phụ mẫu.

Cung phụ mẫu ở bên bên Nhật Giác và Nguyệt Giác (trên lông mi và giáp Trán) cao và sáng sủa, cha mẹ thọ trường, khang ninh. Thấp hãm, cha mẹ mất sớm. Sạm đen, cha mẹ có tật. Trán bên Tả lép thì khắc cha, Trán bên Hữu lép thì khắc mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, hoặc theo mẹ đến ở với Dượng, hoặc làm con nuôi người khác. Đầu lệch, trán hẹp là con thứ hoặc con hoang thai. Mi bên tả cao, Mi bên Hữu thấp thì mẹ chết trước,. Mi bên tả thấp, mi bên hữu cao thì cha mất trước, mẹ đi tái giá. Trán lép mi giao, cha mẹ mất sớm. Nhật giác, nguyệt giác đầy đặn, nở nang thì cha mẹ hiển vinh. Sắc xanh khí ám, cha mẹ cảnh lo phiền, miệng tiếng. Sắc trắng pha màu sạm, cha mẹ ốm nặng hoặc đã mất. Sắc hồng hoặc vàng, cha mẹ gặp vận vui mừng.

Xem thêm: Thơ phú 12 cung tướng trên khuôn mặt

Tổng luận:

Phần xem tướng mạo cốt lấy ngay ngắn, đầy đặn, là thượng cách. Thấp hãm, nhọn lép là hạ cách. Cốt cách, tinh thần cùng xứng, thần khí điều hòa, thì hay. Khí sắc bạc nhược là xấu, Khí sắc hồng hào là tốt.

Trước xem ngũ nhạc (Trán, hai gò má, mũi và cằm) đầy đặn là tương đối là người phú quý vinh hoa. Sau xem tam đình bằng phẳng thì suốt đời hiển đạt (trán thuộc tiền vận, Mũi thuộc về trung vận, Địa các thuộc về hậu vận). Tam Đình (trán, mũi, địa các) không đều đặn hoặc nghiêng lệch là phá tướng, thì nghèo hèn.

Nên chú ý: 12 cung trên đây chỉ là tóm tắt, đại khái. Chỉ cần xem rộng thêm những mục dưới đây rồi mới có thể có một ý niệm chắc chắn được.

Luận về ngũ quan

Ngũ quan:

  1. Là tai, gọi là thái Thính quan
  2. Là Mi, gọi là Bảo Thọ quan
  3. Là mắt, gọi là Giám Sát quan
  4. Là Mũi, gọi là Thẩm Biện quan.
  5. Là Miệng, gọi là Xuất Nạp quan

Một quan hoàn toàn được 10 năm sang.

Một Phủ hoàn toàn được 10 năm giàu

Nếu cả ngũ quan đều hoàn toàn thì suốt đời giàu sang.

  1. Tai : Tai cần phải cao hơn mi, đầy đặn, sáng sủa, thành quách đều đặn, lỗ tai rộng là tai hoàn toàn.
  2. Mi: Mi cần phải rộng, thanh nhá, hoặc như vâng trăng đầu tháng, đầu mi và đuôi mi đều đặn, đậm đà là mi hoàn toàn.
  3. Mũi: Mũi cần phải cao và thẳng, hình như ống tre, bổ đôi, đầu mũi cao và to, hình như trái mật treo, Lan đài, Đinh úy, (2 bệnh cạnh đầu mũi) đều nở nang, cân đối, lỗ mũi vừa vặn, sáng sủa, không có văn vết là mũi Hoàn toàn
  4. Miệng: Miệng cần phải rộng và vuông, môi đỏ ngay ngắn, đầy đặn, hai mép như vòng cung, hai má thì to mà ngậm lại thì nhỏ là Miệng hoàn toàn
  5. Mắt: Mắt cần phải kín đáo, xinh xắn, không lộ, lòng đen, lòng trắng phân minh, con ngươi ngay ngắn, sáng quắc như điện hoặc mắt nhỏ mà dài là Mắt Hoàn Toàn.

Luận về Ngũ Nhạc ( năm trái núi)

Ngũ nhạc là: Trán, cằm, mũi và 2 gò má.

  1. Trán gọi là Nam Nhạc (núi phía nam)
  2. Cằm gọi là Bắc Nhạc (núi phía bắc)
  3. Mũi gọi là Trung nhạc (núi ở giữa)
  4. Gò má bên tả gọi là Đông Nhạc (núi phía đông)
  5. Gò má bên Hữu gọi là Tây Nhạc (núi phía tây)

Trung nhạc cần phải cao mà hai bên Đông nhạc và Tây Nhạc cân xứng mới hợp cách. Không xứng với nhau là vô thế chỉ là tiểu nhân, mà không thọ. Trung nhạc mỏng mà vô thế thì cả 4 nhạc thành vô chủ. Có được cách khác cũng không thể gọi là là quý, không có uy quyền và kém thọ.

Trung nhạc tuy dài nhưng không cân xứng đối chỉ được trung thọ.

Mũi nhọn và mỏng thì hậu vận bại

Nam nhạc nghiêng lệch thì thất bại.

Bắc nhạc nhọn và lép thì hậu vận gian nan.

Đông nhạc, tây nhạc nghiêng lệch, vô thế thì tâm địa độc ác.

Ngũ nhạc cần phải xứng đối mới là đại quý (Ví dụ: Mũi to thì gò má cũng phải to, Mũi to như nắm tay, hai gò má không có, hay chỉ gọi là có là vô thế).

Luận về Tứ Độc (4 con sông)

  1. Tai là sông Giang (sông nhỏ)
  2. Mắt là Sông Hà (sông lớn)
  3. Miệng là Sông Hoài (
  4. Mũi là Sông Tế

Bốn sông này đều cần phải sâu, rộng, có bờ bến và không phá cách.

Hợp cách thì nhiều của, của cải súc tích mà không hao tán.

Tai thuộc về Sông Giang, Lỗ tai cần phải rộng mà sâu, phải có thành quách thì mới thông minh mà gia nghiệp vừng bền.

Mắt thuộc Sông Hà, Mắt sâu thì thọ, nông thì yểu, nhỏ mà dài thì sang, sáng quắc thì thông minh, đục mà ám thì ngu  hèn

Miệng thuộc Sông Hoài, cần phải vuông và rộng, hai môi đều đặn kín đáo, Môi trên mỏng thì không che kín môi dưới. Môi dưới mỏng thì không hứng được môi trên. Hai môi không che đỡ được nhau thì không thọ mà hậu vận kém.

Mũi thuộc Sông Tế, cần phải to, cao, tròn và sáng sủa, không lệch, lỗ mũi không hếch, không lộ là tướng giàu có.

Ba cột (trụ) chủ 3 cách.

  • Đầu là cột sống lâu
  • Mũi là cột của cải
  • Thân là cột sự nghiệp
  • Trán nhọn chủ về tiền vận kém
  • Mũi lệch chủ về trung vận suy
  • Cằm lép chủ về hậu vận kém

Người nào mũi lệch là phá tướng, mất cả mọi cách tốt của bộ mặt.

Luận về ngũ tinh (5 ngôi sao)

Ngũ tinh là:

  1. Hỏa tinh là Trán. Trán vuông thì sang.
  2. Thổ tinh là Mũi. Mũi dầy và cao thì thọ và giàu.
  3. Thủy tinh là Miệng, Môi đỏ thì quan chức to.
  4. Kim Tinh là tai bên Tả. Tai trắng hơn mặt thì sang.
  5. Mộc tinh là tai bên hữu. Hai bên đều nhau là hợp cách.

Luận về lục riêu (sáu tên sao)

Lục Riêu là:

  1. Sao Tử Khí tức là ấn đường, cốt phải cao, đầy, tròn trĩnh thì quan sang.
  2. Sao Nguyệt Bột tức là Sơn Căn, cốt phải thẳng thắng thì phong lưu.
  3. Sao La Hầu tức là sao bên tả, cốt phải dài, dài thì giàu.
  4. Sao Kế Đô, tức là sao bên Hữu, Hai bên đều nhau thì vợ chồng đầy đủ.
  5. Sao Thái Âm tức là mắt bên tả, cốt phải đen thì có quan chức.
  6. Sao Thái Dương, mắt bên Hữu, cốt phải sáng quắc thì phúc lộc mới nhiều.

Trán: là Hỏa Tinh, cao và rộng là người có học thức, có địa vị, có tài lộc, cha mẹ danh giá, con nhiều và thọ. Trán nhọn và hẹp hoặc nhiều răn vết thì hèn, hiếm con, ít con, ít tài lộc, sản nghiệp hao tán.

Mi: Hai bên mi là La Hầu và Kế Đô cứng và dài hơn mắt là quý tướng, cha mẹ con cái đều vinh hiển, anh em đều sang. Hai mi liền nhau, lông ngắn và sắc, vàng hoặc đỏ thì anh emvaf con cái hay bị án tử (chết tai nạn).

Mắt: Hai mắt là Thái Âm và Thái Dương, Lòng đen, lòng trắng phân minh, nhỏ nhưng dài thì hay, long đen nhiều lòng trắng ít thì Đại Quý. Nếu lòng đen ít, lòng trắng nhiều thì hãm, khắc cha mẹ, hại vợ con, phá sản, tai nạn và yểu vong.

Mũi:  Mũi là Thổ Tinh, cần đầu mũi cao dầy, lỗ không hếch, Niên thượng, Niên thọ (mé dưới sơn căn) dầy và phẳng, Hai tai không lệch là tướng phúc lộc thọ. Nếu Thổ Tinh không ngay ngắn, đầu mũi nhọn hoắt thì bần tiện mà tâm linh bất chính. Sơn căn lệch lẹo, hãm thì con cái không vượng, nhiều tai ách, phá sản, khắc vợ con.

Tai: Hai tai thuộc về Kim Tinh và Mộc Tinh, cần phải có thành quách phân minh, sắc đỏ hoặc trắng, không cứ to hay nhỏ, lỗ rộng và ngay ngắn, không phán, không nhọn, cao hơn mắt và mi, sắc đẹp thì phát đạt sớm. Nếu tai phản, lệch hoặc bên to bên nhỏ là hãm thì tán tài, phá sản và kém học thức hoặc vô học thức.

Miệng: Miệng là Thủy Tinh gọi là học đường, cần phải môi đỏ, miệng rộng và vuông. Nhân trung sâu rộng, sáng đều đặn, ngay ngắn là tướng văn chương học thức, quan cách phong lưu. Nếu môi lệch, răng thô, mép chễ xuống, môi vàng khè là tướng bần tiện.

Luận về Lục Phủ ( sáu phủ)

Lục phủ là Thượng phủ, trung phủ và Hạ phủ.

  • Thượng Phủ là chỗ hai bên góc trán chạy thẳng xuống gò má.
  • Trung Phủ là chỗ hai gò má.
  • Hạ Phủ chỗ 2 bên quai hàm

Cả 6 nơi ấy cần phải đầy đặn, tương đối, không được lệch lạc, thấp hãm. Lục phủ đầy đặn, thẳng thắn, không khuyết hãm, không răn vết thì Vượng Tài. Thượng phủ cao thì nhiều lộc, Hạ Phủ Vuông hoặc tròn thì nhiều ruộng vườn.

Luận về tam tài (thiên-nhân-địa)

Tam tài là Trán, Mũi và Cằm

Trán thuộc về Thiên (trời), cốt phải rộng, nở và tròn tức là có trời thì sang.

Mũi thuộc về Nhân (Người), cốt phải ngay thẳng, đều đặn, tức là có người thì Thọ.

Cằm thuộc về Địa (Đất), cốt phải vuông và rộng, tức là có đất thì giàu.

Luận về Tam Đình

Tam đình là thượng đình, trung đình và hạ đình.

Thượng đình là từ chân tóc thẳng xuống ấn đường, thuộc về sơ niên tức là tiền vận.

Trung đình từ sơn căn thẳng đến đầu mũi (Truẩn đầu) thuộc về trung niên tức là trung vận.

Hạ Đình tức là từ nhân trung đến địa các thuộc về mạt niên, tức là hậu vận.

Thượng Định dài hơn thì vượng tuổi trẻ, trung Đình dài hơn thì tước lộc vinh hiển. Hạ đình dài hơn thì hậu vận tốt, Cả ba đình bằng nhau thì phú quý vinh hiển. Ba đình không bằng nhau thì cô, yểu, bần, tiện.

Luận về tứ học đường

Tứ học đường là:

  1. Mắt là Quan học đường. Mắt cốt dài và thanh, chủ về quan chức.
  2. Trán là Lộc học đường. Trán cốt rộng và dài chủ về quan thọ.
  3. Miệng là Nội học đường. Răng cốt phải ngay thẳng, lỗ chỗ 2 răng cửa kín đáo chủ về trung tín, hiếu kính. Răng thưa, khuyết bé, nhỏ chủ về sảo trá, nói càn.
  4. Cạnh tai giáp nơi má là Ngoại học đường. Cốt phải đầy đặn, sáng sủa, chủ về thông minh. Nếu thấp hãm, sạm, ám thì ngu đần.
Bình Luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.